Sa thành trước trực tràng

SA THÀNH TRƯỚC TRỰC TRÀNG (rectocele) (STTTT): là một chứng bệnh thường gặp ở phụ nữ, do thoát vị của thành trước trực tràng qua vách ngăn âm đạo - trực tràng. Các yếu tố nguy cơ: đẻ nhiều lần; rạch tầng sinh môn khi thai to; mãn kinh; táo bón mãn tính,…

Rò trực tràng - âm đạo

RÒ TRỰC TRÀNG - ÂM ĐẠO: là một thông thương bất thường giữa trực tràng và âm đạo, qua đó các chất chứa trong ống tiêu hoá thoát sang âm đạo. Nguyên nhân: có thể do chấn thương, hay gặp nhất là đẻ đường dưới (tỷ lệ gặp 0.1%), do biến chứng phẫu thuật vùng tiểu khung như cắt tử cung, trực tràng, khối u, hoặc xạ trị (dưới 5%), bệnh viêm nhiễm vùng trực tràng, bệnh Crohn hay do bẩm sinh.

Rò hậu môn

RÒ HẬU MÔN (RHM): là sự thông thương bất thường giữa lòng hậu môn - trực tràng với bề mặt da. Đây là một bệnh nhiễm khuẩn, thường do vi khuẩn đường ruột (E.Coli), khoảng 5 - 10 % do vi khuẩn lao. Điểm khởi phát là những nhiễm khuẩn bắt nguồn từ một trong những tuyến nằm ở hốc hậu môn trên đường lược (tuyến Hermann và Desfosses, còn gọi là lỗ nguyên phát hay lỗ trong). Những nhiễm khuẩn này dẫn tới tụ mủ có thể phá ra ngoài tạo thành những lỗ rò quanh hậu môn hay vỡ vào trong lòng ống hậu môn trực tràng (còn gọi là lỗ thứ phát hay lỗ ngoài). Áp xe và rò là hai giai đoạn của một quá trình bệnh lý.

Nứt kẽ hậu môn

NỨT KẼ HẬU MÔN (fissure anale) (NKHM): là một vết rách niêm mạc hậu môn hình như một chiếc vợt, nằm ở niêm mạc hậu môn từ mép da rìa hậu môn tới đường lược. Thường có một mảnh da thừa, còn được gọi là “cột báo hiệu” nằm ở cực ngoài, một u nhú phì đại nằm ở cực trong vết loét (trên đường lược). Vết loét thường ở vị trí 6 giờ (tính theo mặt kim đồng hồ, bệnh nhân nằm tư thế phụ khoa). Đôi khi ở vị trí 12 giờ (thường ở nữ giới), hiếm khi có cả vị trí 6 và 12 giờ.

Bệnh trĩ

BỆNH TRĨ: là tình trạng dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ. Đây là một bệnh thường gặp. Ở các nước Âu Mỹ cũng như ở Việt nam, tỷ lệ mắc tới 50%. Bệnh nhân trĩ thường đi khám và chữa bệnh muộn, sau nhiều năm mắc bệnh. Do bệnh không ảnh hưởng nặng nề tới cuộc sống nên người bệnh chấp nhận. Trĩ nằm ở vùng cần che kín, nên bệnh nhân ngại đi khám.

Đau bụng ngoại khoa

Đau bụng ngoại khoa: Là cảm nhận đau ở trong bụng, triệu chứng đau xuất phát từ bất cứ định vị nào trong ổ bụng. Đôi khi thấy đau ở bụng nhưng bệnh xuất phát từ các tạng khác gần bụng như tim, phổi. Ngoài ra, có trường hợp đau từ trong ổ bụng nhưng lại có thể đau xiên lên vai (trong cơn đau quặn mật) hay đau xuống bẹn (trong cơn đau quặn thận).

Chấn thương ngực kín

CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN (CTNK - Thoracic Trauma): Là những chấn thương (CT) thường do một vật tù đập mạnh vào lồng ngực (ngã từ trên cao, cây đổ, xe đổ, vô lăng ô - tô đập vào ngực…) gây nên tổn thương ở thành ngực hoặc ở các cơ quan trong lồng ngực, nhưng không làm rách da và các mô mềm bao quanh lồng ngực. CTNK thường gặp trong thời bình, do tai nạn giao thông hoặc lao động, khác với vết thương ngực thường xảy ra trong chiến tranh.

Cắt viêm ruột thừa cấp

Cắt viêm ruột thừa cấp: Là phẫu thuật cắt tận gốc và lấy RT bị viêm ra khỏi ổ bụng. Chỉ định trong VRT cấp, viêm phúc mạc RT và áp xe RT. Có thể tiến hành gây mê tĩnh mạch hoặc nội khí quản, gây tê tủy sống... Kỹ thuật có thể mổ mở hoặc mổ nội soi. Đối với VRTC chưa có biến chứng: Sau khi sát khuẩn, rạch đường Mac Burney. Rạch và tách dọc theo các lớp cân cơ, tìm RT ở dưới đáy manh tràng. Cắt RT: Kẹp cắt sát gốc ruột thừa. Buộc thắt gốc RT bằng catgut hoặc lanh. Vùi mỏm hoặc không vùi. Kiểm tra hồi tràng: 60cm tính từ góc hồi - manh tràng. 

Cắt túi mật nội soi

Cắt túi mật nội soi: Là phương pháp mổ xâm lấn tối thiểu đuợc Phillip Mouret thực hiện lần đầu năm 1987. Ngày nay được áp dụng rất phổ biến ở tất cả các cơ sở phẫu thuật. Đường vào ổ bụng bằng 3 đến 4 đường rạch nhỏ từ 0,5 đến 1,5 cm để đặt camera nhỏ, dụng cụ mổ nội soi và bơm hơi vào ổ bụng để thực hiện kỹ thuật.

Cắt phổi

CẮT PHỔI {(CP) - Removal of Lung }: là cắt bỏ đi phần phổi chấn thương không còn khả năng bảo tồn, hoặc phần phổi bệnh nguy hại cho cơ thể. Những người tiên phong trong lịch sử: Năm 1895: William Macewen người đầu tiên tiến hành phẫu thuật cắt phổi (pneumonectomy) trên một bệnh nhân bị bệnh lao và bệnh khí phế thũng.

Cắt lách

Cắt lách: Là phương pháp mổ cắt bỏ toàn bộ hay một phần lách. CL được tiến hành đầu tiên năm 1581 bởi Viard (de Gien), N.Mathias (1678) CL do chấn thương, Rođick (1885) và Riegner (1892) CL để cầm máu sau mổ bụng, CA.Doan (1955) CL do cường lách và các bệnh về máu. CL theo phương pháp nội soi được Delaitre tiến hành lần đầu năm 1991, Carrol. Thibault năm 1992. Áp dụng nhiều trong chấn thương lách và các bệnh về máu có chỉ định CL.

Cắt gan

Cắt gan: Là phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ gan. CG được Caprio, phẫu thuật viên Uruguay thực hiện (1932), Mayer - May và Tôn Thất Tùng (1939), Lortat - Jacob và Couinaud (1951). CG được chia ra 2 nhóm lớn: CG điên  hình (hay CG có kế hoạch) là cắt một phần nhu mô gan tương ứng với một rãnh giải phẫu của gan.

Cắt dây thần kinh tạng

Cắt dây thần kinh tạng (splanchnicectomy hoặc splanchnicotomy) Phẫu thuật cắt một hoặc nhiều nhánh thần kinh tạng (splanchnic nerve), thường kèm theo hạch thân tạng để điều trị tăng huyết áp hoặc đau khó chữa do ung thư tụy giai đọan cuối hay viêm tụy mạn. Phẫu thuật có thể thực hiện qua mở ngực hoặc nội soi lồng ngực, có thể chỉ thực  hiện một bên (thường là bên trái) hoặc cả hai bên.

Bóc vỏ màng phổi

BÓC VỎ MÀNG PHỔI (BVMP) - (Lung  Decortication): Thủ thuật bóc vỏ phổi (decortication noun the surgical removal of the cortex of an organ decortication of a lung a surgical operation to remove part of the pleura which has been thickened or made stiff by chronic empyema) Thủ thuật bóc vỏ màng phổi là một phẫu thuật cắt bỏ một phần của màng phổi đã bị dày hoặc nhiễm cứng bởi viêm mủ màng phổi  mãn tính.

Bắc cầu động mạch chủ vành

BẮC CẦU ĐỘNG MẠCH CHỦ - VÀNH: Là thủ thuật dùng một đoạn mạch tự thân bắc qua đoạn tổn thương (hẹp hay tắc) nhằm tái tưới máu phía dưới. Đoạn bắc cầu có 2 nguồn gốc: Tĩnh mạch hiển lớn và động mạch (động mạch quay, động mạch ngực trong)

Bụi

BỤI: (cg: Bụi bặm) Những hạt chất rắn nhỏ, thường có kích thước dưới 75 micromet, tự lắng xuống do trọng lượng của chúng nhưng vẫn có thể lơ lửng trong không khí một thời gian. Nguồn gốc B rất phức tạp, có thể phát sinh từ sự vỡ các chất rắn do tác động cơ học hoặc có sẵn trong tự nhiên. B phát tán vào trong không khí bằng các lực tự nhiên như gió, núi lửa phun, động đất và bằng cơ học hoặc các quá trình nhân tạo như đập, nghiền, xay, khoan, làm bóng, xúc, ủi, vận chuyển, sàng, đóng gói và quét dọn...

Bệnh rung nghề nghiệp

Bệnh rung nghề nghiệp: Là tình trạng bệnh lý do tiếp xúc với rung chuyển là một trong những yếu tố có hại trong lao động ở một số ngành nghề. Biểu hiện bệnh lý tập trung chủ yếu vào tổn thương xương, khớp xương, rối loạn vận mạch, ngoài ra, có thể thấy tổn thương cân, cơ, thần kinh...

Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp

Bệnh nhiễm độc mangan nghề nghiệp: Là tình trạng bệnh lý của cơ thể do tiếp xúc nghề nghiệp với bụi hay hơi bioxyt mangan từ. NĐM có thể gặp nhiều thể, phổ biến nhất là thể thần kinh, ngoài ra còn gặp các thể rối loạn nội tiết, huyết học, tiêu hoá, tổn thương gan, thận, phổi, mũi họng...

Bệnh nghề nghiệp được đền bù

Bệnh nghề nghiệp được đền bù: Là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động đến người lao động (Bộ luật Lao động). Danh mục BNNĐĐB do Bộ Y tế, bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành có quy định cụ thể mức được đền bù cho người lao động có đóng bảo hiểm. Trong quá trình lao động sản xuất, dù sử dụng công cụ thông thường hay máy móc hiện đại, dù áp dụng kỹ thuật giản đơn hay áp dụng công nghệ phức tạp, tiên tiến đều phát sinh và tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm, có hại, gây BNN cho người lao động.

Bệnh da nghề nghiệp

Bệnh da nghề nghiệp (A:Occupational dermatosis): Là những tổn thương ở ngoài da do các yếu tố có hại của nghề nghiệp tác động đến người lao động.

Trang 1 của 3